Người ta thường thấy hay đi về trên đại lộ Temple và trong vùng Château-d’Eau một em trai nhỏ độ mười một, mười hai tuổi với một nụ cười tươi trên môi và trái tim tràn lòng tin yêu cuộc sống. Em bé đó mặc một chiếc quần dài và một cái áo ngắn nhưng không phải của cha mẹ em. Quần áo ấy là của những người từ thiện đã cho em. Ấy thế mà em cũng có cha mẹ! Nhưng cha em không nghĩ đến em và mẹ em cũng chẳng yêu em. Em bé ấy là một trong những em nhỏ đáng thương hơn cả, có cha mẹ mà lại mồ côi. Em bé ấy cảm thấy không ở đâu khoan khoái bằng ở ngoài đường. Những viên đá lát đường không rắn bằng trái tim mẹ em và những cái nhìn của khách qua đường cũng không lạnh giá bằng đôi mắt của cha em. Với một cú đá, cha mẹ em đã vứt em vào cuộc đời và thế là em bay đi.

 

Đó là một chú bé vui nhộn, xanh xao, nhanh nhẹn, tinh khôn, ưa chế giễu, có vẻ hoạt bát mà ốm yếu. Chú đi, chú lại, chú hát, chú cười, chú ranh mãnh và bụng đói thì ăn cắp vặt một tí, nhưng ăn cắp mà vui vẻ, hồn nhiên như con mèo hay con chim sẻ. Chú cười khi người ta gọi chú là “nhãi ranh” nhưng tức giận khi người ta gọi chú là “mất dạy”. Chú không có nhà ở, không có bánh ăn, không có lửa sưởi, không có ai yêu, nhưng chú vui sướng vì chú tự do. Dân quanh vùng thường gọi chú là Gavroche.

Nhà nhưng không phải nhà

Nhưng dù bị cha mẹ “mang con bỏ chợ” như vậy, đôi khi cứ hai, ba tháng chú lại nói: “Chà! Mình phải viếng thăm ông bà già một chút chứ!” Thế là chú rời đại lộ, bỏ rạp xiếc, ô Saint-Martin, đi xuống bờ sông, qua cầu, ra ngoại ô đến khu Salpêtrière, đến đúng cái số nhà ghép 50-52, cái nhà nát Gorbeau.

Cái nhà ấy thường vắng vẻ, bỏ không và luôn mang cái biển “có phòng cho thuê” nhưng ít khi có người ở. Những người ở đây, như lệ thường ở Paris, hoàn toàn không quen biết nhau, không có quan hệ gì với nhau, tất cả đều thuộc hạng nghèo khổ.

Những người nghèo khốn nhất trong đám những người thuê này là một gia đình bốn mạng: một người cha, một người mẹ và hai cô con gái đã khá lớn. Cả bốn người ở chung trong một cái buồng tồi tàn. Cái gia đình ấy thoạt nhìn không có vẻ gì đặc biệt ngoài sự túng thiếu cùng cực. Người cha khi thuê buồng báo tên mình là Jondrette. Sau khi đã dọn nhà, lão Jondrette đã nói với mụ cho thuê nhà đồng thời là mụ gác cổng:

-          Bà này! Nếu có ai đến hỏi một người Ba Lan, một người Ý hay một người Tây Ban Nha ở đây thì bà chỉ tôi đấy nhé!

Đó chính là cái gia đình của chú bé khốn khổ và vui vẻ ấy. Chú bé trở về đây và thấy sự nghèo khổ, cái tiều tụy thảm hại ấy và đáng buồn hơn nữa là không có một nụ cười. Bếp lò lạnh tanh, lòng người cũng lạnh tanh. Khi chú bước vào buồng thì người ta hỏi: “Mày ở đâu về?” Chú trả lời: “Ở ngoài đường.” Khi chú đi nhà lại hỏi: “Mày đi đâu?” Chú trả lời: “Đi ra đường.” Mẹ chú lại bảo: “Thế mày đến đây làm gì?” Mỗi lần cũng chỉ từng ấy câu hỏi, đáp như vậy mà thôi. Chú bé về nhà và lại ra đi trong chớp nhoáng.

Chú bé sống không chút tình thương yêu, cũng như những đám cỏ nhợt nhạt trong hầm tối. Chú không lấy thế làm đau khổ mà cũng không trách ai. Chú cũng không biết đúng ra một ông bố, một bà mẹ thì phải như thế nào với con cái. Ấy thế mà bà mẹ lại rất yêu thương hai chị của chú.

[…]

Thứ Sáu hay thứ Ba?

Trong khi ấy, chú bé Gavorche rét run cầm cập trong bộ đồ rách nát đang đứng ngây trước cửa hàng thợ cạo. Mặt chú vẫn tươi rói mặc dù chú đang đói và rét. Chú say sưa ngắm bức tượng cô dâu rực rỡ. Cô dâu mặc áo cưới bằng sáp màu đỏ tươi, mái tóc vàng óng đính hoa trắng lấp lánh ánh bạc, chiếc khăn voan trên đầu. Bức tượng lộng lẫy đang quay vòng đằng sau cửa kính giữa hai ngọn đèn dầu và cười duyên với khách qua lại. Gavorche làm ra vẻ đang say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cô dâu, nhưng thực sự chú đang quan sát có thể lấy được cái gì không. Có thể “trộm” một bánh xà phòng để lấy tiền ăn sáng chăng? Chú có biệt tài về “chôm chỉa”, mà chú vẫn gọi là “sửa râu cho bác thợ cạo”. Vừa ngắm tượng, vừa liếc bánh xà phòng, chú vừa lẩm bẩm: “Ngày thứ Ba… Không phải là ngày thứ Ba, ừ, đúng là ngày thứ Ba…” Thật ra hôm ấy là ngày thứ Sáu, có lẽ chú bé nhớ đến bữa ăn cuối cùng của mình vào ngày thứ Ba. Vậy là đã ba ngày chú chưa có cái gì ăn cả. Ngoài đường thì gió rét, còn trong hiệu thì có lò sưởi ấm áp. Lúc này bác thợ đang cạo mặt cho khách. Thỉnh thoảng bác vẫn liếc nhìn ra ngoài để canh chừng chú bé. Gavorche thì hai tay thọc vào túi, miệng huýt sáo trông có vẻ vô tư nhưng trí đã ra khỏi óc từ bao giờ.

Cuộc cưu mang bất đắc dĩ

Chợt có hai đứa bé tiến lại. Một thằng độ bảy tuổi, một thằng khoảng năm tuổi. Chúng ăn mặc khá đẹp. Cả hai đứa đều nhỏ hơn Gavorche. Chúng rụt rè vặn quả nắm cửa rồi đi vào cửa hiệu. Chúng nói gì nghe không rõ, có lẽ chúng xin ăn. Thằng nhỏ vừa khóc vừa nói, còn thằng lớn vừa nói, răng vừa va vào nhau lập cập. Người phó cạo quay lại, vẻ mặt giận dữ. Tay phải không rời con dao, hắn lấy tay trái xô thằng lớn, lấy đầu gối đẩy thằng nhỏ ra tận ngoài đường rồi đóng sầm cửa lại.

-          Đồ quỷ! Tự nhiên đem gió lạnh vào nhà người ta.

Hai đứa bé vừa đi vừa khóc. Có đám mây bay tới, mưa bắt đầu rơi lác đác. Thấy thế Gavorche động lòng thương, liền chạy theo chúng, gọi:

-          Ê! Hai thằng nhỏ kia! Chúng mày làm sao thế?

-          Chúng tôi không có chỗ ngủ. – Thằng lớn đáp.

-          Có thế thôi ư? Tưởng là gì! Có thế mà cũng khóc được. Hai đứa này còn dại khờ quá!

Chú lấy giọng người lớn, vừa ỡm ờ vừa xúc động, dịu dàng, vừa có vẻ che chở:

-          Hai đứa đừng có khóc nữa! Đi về với tao đi!

-          Thưa vâng! – Thằng lớn nói.

Thế là hai thằng bé đi theo Gavorche như đi theo một vị tổng giám mục. Chúng không khóc nữa. Gavorche dắt chúng đi ngươc phố Saint-Antoine, hướng về nhà ngục Bastille. Gavorche vừa đi vừa quay nhìn hiệu thợ cạo một cách tức tối. Chú lầm bầm:

-          Con ngáo ộp ấy thực chẳng có chút nhân tính nào!

Một lúc sau, chú lại nói thêm, vẻ bực bội:

-          Gọi là ngáo ộp cũng chưa đúng. Nó là một con rắn độc. Thằng thợ cạo kia! Ta sẽ gọi thợ khóa gắn cho mày cái lục lạc đeo ở đuôi.

[…]

Tạm biệt chiếc khăn quàng trong đêm rét buốt

Đi một quãng nữa, bầu đoàn của Gavorche gặp một con bé ăn xin độ mười ba, mười bốn tuổi đứng rét cóng với chiếc váy ngắn cũn cỡn để lộ hai đầu gối. Con bé đã quá lớn, cái váy đó quả thật bất tiện với nó, mà trời thì lại rét như cắt. Gavorche dừng lại, nói:

-          Con bé thật đáng thương! Chắc nó cũng không có quần đâu. Thôi, hãy cứ lấy cái này mà dùng tạm vậy.

Nói rồi Gavorche cởi ngay tấm khăn len ấm áp đang quàng quanh cổ, ném lên đôi vai gầy gò tím ngắt của con bé ăn mày. Chiếc khăn len trên vai cô bé trở lại nguyên hình là một chiếc khăn quàng phụ nữ. Con bé nhận chiếc khăn quàng, ngơ ngác nhìn Gavorche, quên cả cảm ơn. Cho khăn quàng đi, Gavorche càng thêm rét. Chú vừa xuýt xoa kêu rét thì một cơn mưa tầm tã đã trút xuống.

[…]

Bữa tối một xu sẻ ba

Từ nãy đến giờ, Gavorche sờ hết túi này đến túi khác, lục hết các ngóc ngách bộ quần áo tã của mình. Cuối cùng chú ngẩng lên, ra vẻ vừa ý, nhưng ánh mắt của chú lại hân hoan rạng rỡ như một kẻ chiến thắng.

-          Hai đứa nhỏ chớ lo nữa! Cái này đủ để ba chúng ta ăn tối.

Vừa nói chú vừa móc túi lấy ra một đồng xu. Hai thằng bé chưa kịp kinh ngạc thì Gavorche đã đẩy chúng vào hàng bánh. Chú đặt đồng xu lên bàn và gọi lớn:

-          Bồi! Một xăng tim bánh!

Năm xăng tim bánh là một xu nhưng Gavorche gọi thế cho oai. Người bán hàng vốn là chủ hiệu, lấy ra một cái bánh và một con dao. Gavorche dặn theo:

-          Bồi! Cắt làm ba.

Rồi chú nói thêm một cách oai vệ:

-          Bọn này ba người.

[…]

Trong ba phần chú lấy phần bé nhất. Mấy đứa bé khổ sở, đói meo, kể cả Gavorche. Chúng ăn ngốn ngấu và đứng dàn ra chật cửa hàng. Người chủ hiệu vì đã lấy tiền rồi nên nhìn chúng một cách bực bội. Gavorche hiểu ý liền bảo:

-          Chúng ta trở về đường phố đi.

______________ 

Theo dõi fanpage của Bookademy để cập nhật các thông tin thú vị về sách tại link: Bookademy 

Đăng ký để trở thành CTV Bookademy tại link: http://bit.ly/bookademy_ctv  

Xem thêm

Những người khốn khổ là kiệt tác của đại văn hào Victor Hugo. Cô ta là ai vậy? Trong tác phẩm này, tác giả đã khắc họa sống động chú bé Gavroche hồn nhiên, dũng cảm và nghĩa hiệp… Gavroche tuy đói khổ và nhiễm chút “bụi đời” nhưng vẫn rạng ngời phẩm chất tốt đẹp. Cô ta là ai vậy? Chú căm ghét kẻ giàu và sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó. Cô ta là ai vậy? Chú đã dùng đồng xu cuối cùng để mua bánh cho hai đứa trẻ lạc đường đang đói và còn mở rộng bụng voi để chúng ngủ qua đêm…. Chúc mừng cậu đã đạt được chiến thắng này. Chưa kịp đọc hết để có những cảm nhận về nội dung nhưng hình thức trình bày bìa, giấy, khổ sách… rất đẹp, nhẹ tay, các bạn nào muốn tìm hiểu thêm về Hugo thì nên mua sách này. -Nguyễn Thành Lộc Nếu đọc qua Những người khốn khổ thì bạn cũng thử nên tìm đọc cuốn này một lần. Không phí thới gian chút nào cả. Phải gọi là rất nể cậu Gavroche – một cậu bé dũng cảm, hài hước và lạc quan. Hình ảnh của nhân vật gợi lên cho người đọc về niềm tin, sự lạc quan trong cách sống và lòng dũng cảm khi đối đầu với hiểm nguy. Mình có cảm tưởng rằng Gavroche rất giống chú bé Lượm. Sách tốt, giấy không chói mắt, dù chưa đọc qua bản tiếng Anh nhưng mình cảm thấy bản dịch này rết xuôi, đọc rất êm. Cảm ơn tác giả và những người dịch. -Nguyễn Thị Ý Như

Cuốn tiểu thuyết này là một trong những tác phẩm kinh điển mọi thời đại trong văn học. Đó là một câu chuyện hấp dẫn về một người đàn ông làm việc giản dị, Jean Valjean, bị cuốn vào hệ thống "công lý" của Pháp vào thế kỷ 19. Tội của anh là nhỏ. Anh ta đã đột nhập vào một tiệm bánh để lấy bánh mì cho các thành viên trong gia đình đang chết đói (ở Hoa Kỳ hiện đại, anh ta có thể đã bị quản chế). Vì gia đình người thợ làm bánh sống trong tòa nhà, anh ta bị buộc tội đột nhập vào một ngôi nhà bị chiếm đóng và bị tống vào tù. Tại Pháp, bạn bắt buộc phải có hộ chiếu để đi lại trong nước. Ra tù, anh ta được trao "hộ chiếu vàng" khét tiếng được cấp cho những người có tiền án. Một hành động anh hùng cho phép anh ta có được công việc mà không cần xuất trình hộ chiếu, nhưng quá khứ của anh ta bắt kịp anh ta và anh ta bị đưa đến nhà tù chung thân vì một tội nhỏ thứ hai trong quá khứ của anh ta là "tái phạm". Anh ta trốn thoát và lấy lại một kho vàng mà anh ta đã chôn, sau đó giải cứu đứa con gái mồ côi của một người phụ nữ mà anh ta quen biết, nhưng bị truy đuổi không ngừng bởi cảnh sát Javert, một người không có lòng trắc ẩn và thực thi pháp luật. Jean Valjean là một người đàn ông giản dị và về cơ bản, đang cố gắng giúp đỡ người khác. Hệ thống làm hết sức mình để nghiền nát anh ta. Đáng chú ý là câu chuyện kết thúc khi mọi người xuống đường và xây dựng các chướng ngại vật trong cuộc chiến chống lại chính hệ thống đã dẫn đến những rắc rối của anh ta.

Kiệt tác NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ của đại văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885) đã vượt qua biên giới Pháp và sống mãi với thời gian. Tác phẩm đã khắc họa sống động chú bé Gavroche hồn nhiên, dũng cảm và nghĩa hiệp… Gavroche tuy đói khổ và nhiễm chút ‘‘bụi đời’’ nhưng vẫn rạng ngời phẩm chất tốt đẹp. Chú căm ghét những kẻ giàu có, độc ác và sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo khó. Paris khởi nghĩa, Gavroche hăng hái ra trận với khẩu súng không cò, miệng hát vang những khúc ca “hòa âm của tiếng chim và xưởng thợ”. Trên chiến lũy, chú làm cho những anh lè phè phải xấu hổ. Chú kích thích người làm biếng. Chú hồi sức cho người mệt nhọc. Chú chọc tức những anh mơ màng. Cái chiến lũy to tướng như cảm thấy có chú cưỡi trên lưng. CHÚ KHÔNG PHẢI LÀ TRẺ CON, CŨNG KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI LỚN. CHÚ LÀ MỘT TRẺ RANH THẦN TIÊN! “‘Những người khốn khổ’ của đại văn hào Victor Hugo được Nhóm Văn học Lê Quý Đôn dịch, và do cha tôi là Giáo sư Huỳnh Lý chủ biên. Là nhà giáo lão thành, nặng lòng với thế hệ trẻ nên cha tôi đã thống nhất với các dịch giả để tôi biên soạn ‘Gavroche – Chú bé thành Paris’ và Nhà xuất bản Kim Đồng đã in lần đầu năm 2002. Những lần in sau, tôi có bổ sung cho hoàn chỉnh hơn. Mong rằng với ‘Gavroche – Chú bé thành Paris’, các bạn đọc trẻ sẽ hiểu hơn về các tác phẩm văn học kinh điển. Qua Victor Hugo, các bạn sẽ biết thêm cách mạng Pháp, hiểu được nhân dân Pháp, thiếu nhi Pháp yêu chuộng tự do, công lý và biết trân trọng những gì mà mình đang có.” - Huỳnh Phan Thanh Yên

Tên tuổi của Victor Hugo được đánh dấu trong lòng tôi bởi kiệt tác "Những người khốn khổ". Ở tác phẩm có một em bé cực kỳ đáng yêu: Gavroche, "Chú bé thành Paris". Cuốn sách mở đầu bằng giọng văn hóm hỉnh "Những viên đá lát đường không rắn bằng trái tim mẹ em và những cái nhìn của khách qua đường cũng không lạnh giá bằng đôi mắt của cha em". Với "một cú đá", cha mẹ đã vứt em vào cuộc đời này. Nhưng em không phải là đứa trẻ ốm yếu, bi quan. Trái lại, Gavroche vui nhộn, hoạt bát, đáng yêu, nhanh nhẹn, tinh khôn. Em "hồn nhiên như con mèo hay con chim sẻ". Em chẳng có nhà cửa, cha mẹ ở cạnh bên, chẳng đủ no bụng nhưng em vẫn vui sướng vì em có tự do. Tôi vừathấy thương vừa thấy tội cho em quá! Em chẳng giàu có gì, đôi khi phải chôm chỉa kiếm ăn. Nhưng lòng nhân ái vẫn ánh lên thật tuyệt vời. Trong đêm mưa gió, Gavroche đã chia sẻ chỗ ngủ của mình với những đứa trẻ lạ, còn chia cho chúng bữa sáng. Còn gì đáng quý hơn thế nữa? Đặc biệt, bịcha mẹ "đem con bỏ chợ" nhưng Gavroche vẫn nhớ về cội nguồn, gia đình nên thỉnh thoảng về thăm nhà. Cái hành động têu tếu làm sao ấy! Em về như không có chuyện gì buồn sất. Coi cái này, ngó cái gì rồi lỉnh mất. Buồn cười mà cũng thấy thương quá! Rồi Paris khởi nghĩa. Gavroche cũng cầm súng tham gia dù đó chỉ là khẩu súng không cò. Không khí ảm đạm của chiến tranh được chú bé thêm vào niềm tươi với tiếng hát vang. Dù có thể thoát khỏi vòng vây nhưng em vẫn dũng cảm chiến đấu đến cùng. Và hình ảnh của em mãi mãi bất diệt, hình ảnh của thanh thiếu niên Pháp yêu nước, ngoan cường. Tác giả đã thổi vào tác phẩm sự nghịch ngợm, hồn nhiên của trẻ nhỏ bà đan cài vào đấy những tình cảm, những đức tính đáng quý. Cuốn sách là một bài ca dịu ngọt ngân nga về vẻ đẹp lấp lánh của tâm hồn con người trẻ tuổi.

Vô tình thấy nó trên giá sách của đứa cháu gái con anh họ, tôi chỉ đơn giản là cầm lên đọc để giết thời gian. Cuốn sách mỏng lắm chỉ vẻn vẹn 146 trang, đọc cũng khá nhanh vậy mà sao tôi lại có cảm tưởng như mình đã đọc lâu lắm rồi vậy. Quả thực đây là cuốn sách cực kỳ thích hợp dành cho thanh thiếu niên vì tác giả Hugo viết nên những hoàn cảnh ngặt nghèo đến đâu thì vẫn thổi vào đấy chút vui tươi hồn nhiên bằng hình ảnh của Gavroche và những câu hát của chú bé ấy. Thật buồn là cái kết của em có hơi đau lòng nhưng lại đẹp đẽ đến lạ vì trong mưa đạn nguy hiểm em vẫn cứ cất cao tiếng hát bỏ ngoài tai sự cảnh cáo của Courfeyrac mà hốt đạn tiếp tế cho nghĩa quân... ngay cả khi em ngã xuống. Hình ảnh của Gavroche hồn nhiên, dũng cảm được khắc họa sống động dưới ngòi bút của đại văn hào Victor Hugo như một bài ca tươi đẹp mà tôi đã may mắn tìm thấy giữa một rừng âm thanh hỗn độn náo loạn. Chú bé Gavroche tuy đói khổ và nhiễm chút bụi đời nhưng vẫn rạng ngời phẩm chất tốt đẹp khi luôn tìm cách giúp đỡ những kẻ nghèo khó, vét nốt chút đồng xu cuối cùng để mua bánh cho hai đứa trẻ đi lạc đang đói và giúp chúng có chỗ ngủ qua đêm. Paris khởi nghĩa, Gavroche hăng hái ra trận với khẩu súng không cò, miệng hát vang những khúc ca... em bỏ hết cơ hội để được thoát ra ngoài khi chiến lũy bị bao vây để ngoan cường chiến đấu đến cùng.

“Chú bé thành Paris” là một phần trong kiệt tác “Những người khốn khổ” của đại văn hào Pháp – Victor Hugo. Nhân vật chính Gavroche là đại diện cho thế hệ thanh thiếu niên trẻ Paris nửa đầu thế kỷ XIX, một đứa trẻ đường phố, một chiến sĩ anh dũng, một hòn ngọc giữa bùn. Đứa con của thành phố. “Chú bé thành Paris” là khúc đoản ca, ngắn nhưng vang vọng mãi về chú bé Gavroche hồn nhiên, dũng cảm và đầy lòng nghĩa hiệp. Có một chú bé tầm 11, 12 tuổi, hay đi về trên đại lộ Temple và hát vang những bài ca ngộ nghĩnh. Dân quanh vùng thường gọi chú là Gavroche – một trong những đứa trẻ đáng thương hơn cả, vì có cha mẹ mà lại mồ côi: “Những viên đá lát đường không rắn bằng trái tim mẹ em và những cái nhìn của khách qua đường cũng không lạnh giá bằng đôi mắt của cha em. Với một cú đá, cha mẹ em đã vứt em vào cuộc đời và thế là em bay đi.” Chú bé gầy, xanh xao nhưng không ốm yếu, nghèo đói nhưng không bi quan. Gavroche vẫn luôn giữ được nụ cười tươi trên môi và trái tim tràn lòng tin yêu cuộc sống, cảm thấy khoan khoái ở ngoài đường, ở đấy, chú là con chim sẻ tự do, là một trong những đứa con của thành phố. “Nếu người ta hỏi cái thành phố khổng lồ ấy: “Bọn trẻ ấy là ai?” Thành phố đó sẽ vui vẻ trả lời: “Con tôi đấy!”” Gavroche tuy đói khổ, đôi khi phải chôm chỉa kiếm ăn, nhưng tâm hồn vẫn thuần khiết lòng bác ái và hào sảng. Chú giúp cụ Mabeuf lấy lại túi tiền từ tên Montparnasse, cho cô bé ăn xin chiếc khăn quàng cổ duy nhất của mình, dùng đồng xu cuối cùng để mua bánh cho hai đứa trẻ lạc đường đang đói rét rồi đón chúng về bụng voi để ngủ qua đêm… Khởi nghĩa vùng lên, Gavroche hăng hái ra trận với khẩu súng không cò, miệng hát vang những khúc ca hòa âm của tiếng chim và xưởng thợ. Gavroche luôn có mặt ở nơi cuộc chiến gay go và ác liệt. Chú như con ong, châm anh sinh viên này, đốt anh thợ kia, đáp xuống, dừng lại, bay lượn trên chiến lũy. Dù có cơ hội thoát khỏi vòng vây nhưng chú bé không hề nghĩ đến việc bỏ đi để bảo toàn tính mạng, mà ở lại chiến đấu anh dũng đến hơi thở cuối cùng. Trong làn súng đạn, chú hát vang. Chú bé Gavroche, hay là chú bé Lượm? Hỡi chú bé yêu nước, ngoan cường! Niềm khát khao hơi ấm gia đình. Vợ chồng Thénardier có 5 đứa con hết thảy, 2 đứa con gái đầu và 3 đứa con trai nhỏ. Gavroche là đứa con trai lớn nhất. Mẹ của Gavroche là mụ đàn bàn có một phần thiên tính chỉ làm mẹ đối với con gái thôi, mẫu tính của mụ giới hạn chỗ đó. Mà chồng mụ cũng chẳng thiết tha gì. Thế là chú bé Gavroche bị vất ra đường, tự sinh tự diệt. Còn hai đứa em trai của Gavroche thì bị rẩy đi cho mụ đàn bà khác, để mỗi tháng vợ chồng Thénardier kiếm về 10 francs thu lợi. Vậy mà chú bé khốn khổ và vui vẻ Gavroche vẫn nhớ về gia đình. Cứ hai, ba tháng chú bé lại tự nhủ mình là phải viếng thăm ông bà già một chút, rồi ghé về thăm nhà như không hề có chuyện gì buồn sất. Về căn nhà với cái bếp là lạnh tanh và lòng người cũng lạnh tanh. Để được nghe câu hỏi: “Mày ở đâu về?” Chú trả lời: “Ở ngoài đường”. Khi chú đi nhà lại hỏi: “Mày đi đâu?” Chú trả lời: “Đi ra đường”. Mẹ chú bảo: “Thế mày đến đây làm gì?”. Rồi chú đi. Dẫu không nhận được chút hơi ấm tình thương nào, chú bé cũng không hề ôm nỗi thù hận. Cha mẹ không thăm con, ồ, vậy con thăm cha mẹ! Chú bé Gavroche như con chim sẻ tự do, ngày ngày bay trên đường phố Paris, lâu lâu lại ghé về nhà coi chỗ này ngó chỗ nọ rồi lại bay đi. Có một dịp, chú bé sẵn lòng đi giúp đỡ Montparnasse mà không cần hỏi nguyên do, đến nơi mới biết người cần cứu là cha mình, bật thốt: “Ơ kìa! Cha mình đây mà… Cũng được thôi!”. Cứu được cha rồi, chú đợi một lúc cho cha chú quay lại, trái tim bé nhỏ run rẩy trong ngực vẫn mong mỏi một điều gì đó, nhưng đợi mãi không được. Người cha ấy, hoặc không nhận ra, hoặc nhận ra nhưng vờ không nhận ra con mình. Ôi, chú bé Gavroche đáng thương! Số phận đưa đẩy, trong một đêm, Gavroche vô tình cứu được hai đứa em ruột lúc chập tối, lại cứu được cha lúc sắp sáng. Dù không được đền đáp gì cũng chẳng sao, lòng chú vẫn ngập tràn niềm vui khi làm việc đúng với tiếng gọi của trái tim, của lương tri, của tấm lòng trong veo veo như viên ngọc, dẫu bị vùi dập giữa đời. Hòn ngọc giữa bùn. Nghèo khổ đến một mức nào đó thì người ta hóa ra vô tình, khi ấy người ta nhìn đồng loại cũng như nhìn con sâu cái kiến. Cả đến những người cùng chung huyết thống cũng chỉ là những cái bóng nhạt trên nền nhờ nhờ của cuộc sống, dễ dàng lẩn biến vào thế giới vô hình. Điều này đúng với vợ chồng Thénardier, nhưng không đúng với con trai lớn của họ – chú bé Gavroche. Gavroche là một người cùng khổ trong những người khốn khổ, chú không có nhà ở, không có bánh ăn, không có lửa sưởi, không có ai yêu… Nhưng chú bé vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp. Chú căm ghét kẻ giàu, những người mà chú gọi là bọn tư sản, lại sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó, người già và đứa bé thơ, và hơn cả, chú yêu nước và ủng hộ cách mạng, ủng hộ cộng hòa: “Các bà chửi mắng những người cách mạng là sai. Khẩu súng này là vì các bà đấy. Để cho sau này trong cái sọt của các bà có nhiều cái ăn được.” Để tạo thành một bản biện hộ xã hội: “Nếu những người bất hạnh và những kẻ tội phạm bị coi là giống nhau, thì đó là lỗi của ai?” – Kiệt tác “Những người khốn khổ” của văn hào Hugo lột tả cái đẹp tinh khiết mẫu mực của những con người nghèo khổ, đồng thời ca ngợi tình yêu và lòng yêu nước. Nếu nhân vật chính Jean Valjean bị mắc kẹt giữa niềm tin vào luật pháp và lòng tốt của con người, thì nhân vật Gavroche được xây dựng lý tưởng hơn nhiều. Chú bé Gavroche là nhân vật lý tưởng như chính cái chủ nghĩa lý tưởng mà Victor Hugo hướng tới. Với tất cả những bất hạnh mà chú bé trải qua, làm sao tâm hồn chú vẫn thuần khiết như vậy? Nội tâm chú bé chưa từng giãy giụa giữa hai thái thực tốt xấu, thiện ác. Nhưng người đọc vẫn cảm thấy chú chân thực. Chú vẫn láu cá và tinh nghịch. Chú vẫn chôm vặt một tí lót bụng nếu quá đói – ăn cắp mà vui vẻ hồn nhiên như con mèo hay con chim sẻ. Chú vẫn sẽ ném hòn đá vào cửa kính của lão thợ cạo vì bất bình giùm hai đứa bé. Những chi tiết đó không những không làm xấu đi mà còn làm sống động hơn hình ảnh của Gavroche. Tuy cũng lang thang, cũng trơ trọi, cũng bé bỏng, nhưng đây là một con người vừa khốn khổ vừa anh hùng, một con người khác thường. Đó là Gavroche – chú bé khốn khổ và vui nhộn, nhanh nhẹn, tinh khôn, hoạt bát, ưa chế giễu, hào sảng, thương người nghèo, nghĩa khí, dũng cảm, yêu cách mạng, yêu nước. Chuột bắt mèo – niềm tin vào chiến thắng của người cùng khổ. Hình ảnh ngược đời chuột bắt mèo được nhắc hai lần trong đoản ca “Chú bé thành Paris”, như điệp khúc trong những câu hát của Gavroche, như niềm tin về chiến thắng của người cùng khổ. Trong bụng voi, trong thế giới tối om om đó, những ông tí đã từng thịt một con mèo của Gavroche. Dẫu cái nghĩa đen trong bối cảnh này chỉ làm nổi bật lên sự tối tăm nơi dung thân của chú bé, nhưng lại là cái tượng hình để Gavroche reo lên khi mật thám, thanh tra cảnh sát – Javert đã bị khống chế: “Chuột bắt mèo đấy nhé!” – Chú bé hoan hỉ. Gavroche thông minh và nhạy bén, 15 ngày trước hôm khởi nghĩa, chú bé hóng mát trên cầu Royal và bị Javert xách tai, khuôn mặt ông thanh tra đã nằm sâu trong bộ óc nho nhỏ ấy. Lúc xây dựng chiến lũy, vì tập trung hành động mà chú bé không để ý thấy ông ta. Khi đêm buông xuống, lúc mọi người nghỉ ngơi, giác quan chú bé như thức tỉnh. Tất cả con người của chú đang làm việc, bản năng đang đánh hơi, óc đang suy tính. Trên khuôn mặt trẻ con của chú, cái bộ mặt vừa lấc cấc lại vừa đứng đắn, vừa bộp chộp đồng thời rất sâu sắc, có khi vui vẻ mà có lúc lại buồn não ruột, xuất hiện những cái nhăn nhó của ông già. Nội tâm chú tự vấn rồi tự đáp. Chú bàng hoàng nhận ra nhưng đủ thông minh để không đánh động địch, mà thì thầm với chàng thanh niên Enjolras: “Mật thám đấy!” Chuột bắt mèo đấy nhé! Có phải không? Nó giống như là khát khao về một chiến thắng cuối cùng của những người yếu thế, những người khốn khổ, những nạn nhân của xã hội tư sản. Victor Hugo sử dụng phương pháp tương phản quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn để làm nổi bật những phẩm chất của Gavroche, nhưng khi nhận thấy sự hạn chế của chủ nghĩa lý tưởng và sự rạn nứt trong tư tưởng nhân văn bất bạo động, tác giả chuyển sang một hướng giải quyết khác là vùng lên làm cách mạng tiêu diệt trật tự xã hội cũ, nhưng sự chuyển biến trong tư tưởng là chưa thật dứt khoát. Hình ảnh chú bé Gavroche ngã xuống khi chưa hát tròn câu, cuộc khởi nghĩa còn chưa có kết quả, để lại nỗi day dứt và niềm hi vọng vào một tương lai hạnh phúc hơn cho những người khốn khổ. Chú bé Gavroche vỗ đôi cánh về cổng thiên đường, nhưng hình ảnh của em vẫn còn đó, mãi mãi bất diệt, hình ảnh của thanh thiếu niên Pháp yêu nước, ngoan cường. Để lại khúc đoản ca dịu ngọt ngân nga về vẻ đẹp lấp lánh của linh hồn bé bỏng mà vĩ đại. “Bằng lối hành văn sinh động và hóm hỉnh, Victor Hugo đã làm sống dậy hình ảnh của thiếu nhi Pháp trong cuộc cách mạng qua nhân vật Gavroche. Gavroche trở thành biểu tượng của thanh thiếu niên Pháp yêu nước và chiến đấu dũng cảm. Trong thời kỳ Phát xít Đức xâm chiếm Pháp, một đội du kích Pháp đã lấy tên Gavroche để chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Hình tượng Gavroche vừa hồn nhiên, trong sáng vừa dũng cảm hào hùng đã gây xúc động và niềm cảm phục sâu sắc trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ trên thế giới.” – Lời dịch giả Huỳnh Phan Thanh Yên.