Dịch Hạch
Xem thêm

Xuyên suốt phần lớn cuốn Dịch Hạch của Albert Camus, tôi có cảm giác mình đã đọc được quan điểm đặc biệt của tác giả về cuộc sống dưới vỏ bọc của một cuốn tiểu thuyết, được nhiều người gọi là chủ nghĩa hiện sinh. Có quá nhiều điều trong câu chuyện đặc biệt này về việc đối phó với sự bùng phát bệnh dịch hạch ở Oran, Algeria, gợi nhớ đến các tiểu luận của Camus trong Kháng chiến, Nổi loạn & Cái chết và Huyền thoại về Sisyphus, đến nỗi có vẻ như đó là một cuộc đấu tranh để thúc đẩy bản thân tiến về phía trước với mạch truyện nhưng sau đó trong cuốn tiểu thuyết, mọi thứ thực sự dường như đã đâu vào đấy và tôi cảm thấy khá thăng hoa.

 Nhân vật chính, Tiến sĩ Bernard Rieux, là người thận trọng & khắc kỷ đối với nhân loại nhưng ban đầu ông đã do dự khi chính thức tuyên bố một đợt bùng phát bệnh dịch hạch ở cảng Oran, Algeria. Khi một bệnh dịch cuối cùng được công bố & Oran bị đóng cửa với thế giới bên ngoài... điều đầu tiên mà bệnh dịch hạch mang đến thị trấn của chúng tôi là cảm giác bị đày ải - cảm giác về một khoảng trống bên trong không bao giờ rời bỏ chúng tôi, đó là niềm khao khát phi lý được quay trở lại quá khứ hay nói cách khác là tăng tốc độ di chuyển của thời gian./ Đôi khi chúng ta chơi đùa với trí tưởng tượng của mình, chờ đợi tiếng chuông thông báo ai đó đã trở lại, tiếng bước chân quen thuộc, trò chơi giả tưởng đó, vì không có chuyến tàu nào được chạy và cuộc chia ly vẫn tiếp diễn.

Những lời cảnh báo của Albert Camus trong tiểu thuyết “Dịch hạch” của 60 năm trước vẫn còn nguyên giá trị, cái nhìn tiên tri của ông vào thế giới phi lý của con người đã ứng nghiệm khi chúng ta đang đương đầu với một đại dịch toàn cầu

"Dịch hạch" thường được phân tích như là ngụ ngôn ám chỉ "bệnh dịch" của Chủ nghĩa phát-xít. Chính Hitler trong Thế chiến thứ hai đã chọn "thiên mệnh" để lý giải hành động tàn ác của mình và xem đó là sứ mạng được thánh thần giao phó để sắp xếp lại trật tự thế giới. Camus thông qua nhân vật Rieux đã chống lại điều này. Chính sự bàng quan, đứng ngoài cuộc của nhiều nước lớn (giống như nhân vật phóng viên Rambert lúc trước) đầu thế chiến đã làm cho Chủ nghĩa phát-xít bùng phát trên toàn thế giới.

Trong "Dịch hạch" bằng hành động trực tiếp, Rieux đã lay chuyển được những người như Rambert hay Cha Paneloux tham gia cuộc chiến chống lại đại dịch với mình. Cuối cùng, sự kiên trì của con người được đền đáp, thành Oran trở lại cuộc sống như trước.

Albert Camus qua đời năm 1960. Sáu mươi năm sau, những lời cảnh báo của ông vẫn còn nguyên giá trị, cái nhìn tiên tri của ông vào thế giới phi lý của con người đã ứng nghiệm khi chúng ta ngày hôm nay cũng đang đương đầu với một đại dịch toàn cầu. Cũng có sự xuất hiện những kẻ cơ hội Cottard vui sướng trước đau khổ của đồng loại và hưởng lợi từ nạn dịch. Nhưng còn có những người như bác sĩ Rieux kiên quyết không từ bỏ, dẫu khi dịch bệnh kết thúc, ông nhận tin vợ mình vừa qua đời. Bằng lương tri của mình, ông thức tỉnh nhân loại đang u mê trong vòng xoáy của danh lợi, buông xuôi, tuân theo định mệnh và từ chối chiến đấu với cái xấu, cái ác khi bản thân có khả năng. 


Vào thế kỷ thứ XIV, ở hai châu lục Á - Âu xảy ra một trận đại dịch mà theo ước tính đã giết đến 60% dân số châu Âu (tương đương 50 triệu người vào thời điểm đó). Trận đại dịch này được cho là bắt nguồn từ sự bùng phát của bệnh dịch hạch. Hơn 600 năm sau, nhà văn Anbe Camuy (Albert Camus) đã “mang” trận đại dịch này về thế kỷ XX trong cuốn tiểu thuyết “Dịch hạch” (tên gốc: “La peste”; NXB Văn học).

Cuốn tiểu thuyết được trình bày như một thiên ký sự ghi lại những thời khắc lịch sử khi thành phố Oran bên bờ biển gánh chịu nạn dịch hạch. Để từ đó hiển lộ ra tất cả những phi lý của cuộc đời, sự xa lạ của tha nhân và sự dũng cảm của con người dấn thân đối diện với cái phi lý.

Không phi lý sao được, khi một ngày không xác định của một năm thuộc thập niên 1940, một thành phố của Algérie bùng phát dịch hạch. Đầu tiên là những con chuột chết, sự biến mất của mèo, cuối cùng là những con người hoang mang tìm lối thoát khỏi đại dịch. Albert Camsus trình bày kịch bản hoàn thiện về thảm họa sinh học. Đầu tiên là những dấu hiệu, những dự cảm mơ hồ, dần trở thành xác tín. Các cư dân của Oran lúng túng trong việc ứng phó để rồi đi đến quyết định đóng cửa cái thành phố bên bờ Địa Trung Hải này nhằm ngăn chặn nạn dịch lây lan.

Ở thành phố Oran trong cơn đại dịch, lần lượt những khuôn mặt người xuất hiện: nhà báo Raymond Rambert đến từ Paris; Jean Tarrou một "chiến sĩ" xuất hiện bí ẩn ở Oran; cha xứ Paneloux; kẻ cơ hội Cottard. Nhưng nổi bật lên trên nhân quần đó là bác sĩ Bernard Rieux, trung tâm của cuộc chiến chống lại bệnh dịch hạch.

Cho đến cuối, tác giả vẫn không cho biết nguyên nhân trận dịch lại xảy ra ở Oran chứ không phải một thành phố nào khác. Khi sự việc xảy ra, cư dân của thành phố bắt đầu nảy ra câu hỏi với hư vô: tại sao lại là họ. Cái chết diễn ra, thành phố cô lập, tại sao không phải ai khác, mà là họ rơi vào trạng huống phi lý này.

Cha xứ Paneloux trả lời câu hỏi đó bằng thuyết định mệnh. Trong Kinh Thánh, 2 thành phố Sodom và Gomorrah phải bị hủy diệt vì sự bại hoại của mình. Oran cũng sẽ bị hủy diệt vì tội lỗi của nó, một tội lỗi mà Cha xứ không nói rõ là tội gì. Lối giải thích của Cha Paneloux đưa vấn đề quay về "Huyền thoại Sisyphe", đời sống phi lý của Sisyphe là sự trừng phạt của thần linh, là định mệnh, tất yếu và không cần kiến giải. Chỉ cần hứng chịu và đừng mong vượt thoát.


Tác phẩm thực sự là một tác phẩm kinh điển vô cùng đáng đọc, và cả để suy ngẫm về nhân sinh. Là một tác phẩm tiêu biểu thấm đượm tinh thần triết học hiện sinh đề cao vai trò và giá trị con người. Dẫu biết rằng cuộc chiến chống lại cái chết chỉ vẫn chỉ là thất bại chung cuộc, nhưng tình yêu thương đồng loại, tinh thần đấu tranh vượt lên để hoàn thiện mỗi cá nhân thật là một lý tưởng đáng khâm phục và ngưỡng mộ. 

Thông qua hình tượng nhân vật, hành vi và nhất là tâm tư cùng ngôn ngữ của họ, người đọc dễ dàng cảm nhận chiều sâu tác phẩm và ý định tác giả là phủ định chiến tranh và bạo lực, khẳng định ý chí chiến đấu chống tai họa đe dọa cuộc sống con người. Tác giả xây dựng một loạt nhân vật tích cực tuy đường đi nước bước có khác nhau nhưng cuối cùng đều tự nguyện xông vào trận tuyến chiến đấu chống dịch hạch, đem lại cuộc sống yên lành cho con người, trả lại hòa bình cho xã hội.

Trong lúc một số người cho là làm gì cũng vô ích, chỉ nên quỳ gối cầu xin Thượng đế, thì Riơ, Taru và bè bạn đều khẳng định là phải chiến đấu bằng cách này hay cách khác, chứ không quỳ gối: “Toàn bộ vấn đề là ra sức ngăn cản không để người ta chết và vĩnh viễn xa nhau. Muốn vậy, chỉ có một cách duy nhất là chống lại dịch hạch”.

Tinh thần cảnh giác toát ra từ tác phẩm cũng đầy ý nghĩa. Giữa tiếng nói cười hân hoan, rộn ràng của những người thoát dịch bệnh, bác sĩ Riơ vẫn nghĩ đám người đang hò reo đó không biết rằng “vi trùng dịch hạch không bao giờ chết và mất hẳn. Nó có thể nằm yên hàng chục năm trong đồ đạc, áo quần, chăn chiếu…; nó kiên nhẫn đợi chờ trong các căn buồng, dưới hầm nhà, trong hòm xiểng… và một ngày nào đó, để gây tai họa và dạy cho họ bài học, dịch hạch có thể đánh thức đàn chuột của nó dậy và bắt chúng chạy đến lăn ra chết ở một đô thành nào đó đang sống trong hạnh phúc và phồn vinh.

Câu chuyện mở ra với thành phố Oran - 1 thành phố bên bờ biển Algieri, phải tự đóng cửa, biến thành nhà tù vì từng đàn chuột, rồi hàng chục, hàng trăm người chết vì chứng bệnh kinh hoàng: dịch hạch. Oran biến thành 1 địa ngục khủng khiếp, quằn quại trong nguy cơ bị diệt vong như bao thành phố trước kia ở châu Âu, châu Á, châu Phi. Giữa bầu không khí bi thảm ấy, bất chấp hiểm họa bị lây nhiễm, những con người bình dị thầm lặng, xông vào trận tuyến chống lại dịch hạch.

Qua từng trang sách, mình như nhớ lại thời dịch Covid-19 vậy. Ban đầu, khi nghe tin có dịch, mọi người thường có tâm lí chủ quan, cho rằng dịch ở xa, không hề liên quan đến bản thân. Đến khi dịch bùng nổ, các biện pháp như phong tỏa, cách ly được áp dụng, người dân mới bắt đầu lo lắng. Ban đầu, người ta cũng chỉ nghĩ rằng đây giống như 1 kì nghỉ ngắn ngày, rằng dịch bệnh sẽ sớm qua đi. Nhưng khi dịch bệnh càng lúc càng diễn biến phức tạp, số người chế.t càng lúc càng tăng phi mã theo cấp số nhân, xe chở xác chạy ngoài đường nhiều hơn xe cấp cứu, phải hỏa táng vì không còn chỗ để chôn, trạm xá luôn trong tình trạng quá tải,… người ta mới nhận thức được dịch bệnh lần này kinh khủng như thế nào. Từ hy vọng, người ta chuyển sang giận dữ vì bị giam cầm trong 1 nhà tù khổng lồ, vì đồ tiếp tế ngày càng khan hiếm. Và rồi cuối cùng, là tuyệt vọng giữa địa ngục trần gian không lối thoát, chỉ đợi Tử thần- dịch hạch đến gõ cửa mà thôi

Nhưng, như bất cứ 1 thiên sử thi nào khác, luôn có những anh hùng đứng lên chống lại kẻ xấu, chống lại cái chết đang chực chờ hàng ngày. Đó là Bernand Rieux, 1 vị bác sĩ tận tụy, luôn hết lòng vì bệnh nhân. Đó là Jean Tarrou, 1 du khách bị mắc kẹt lại Oran, nhưng đã đứng lên tuyến đầu, thành lập các tổ chức y tế tự phát để hỗ trợ, chăm sóc các bệnh nhân. Đó là Rambert, nhà báo, người mà hơn 1 nửa cuốn sách chỉ muốn tìm cách trốn khỏi Oran vì lệnh phong tỏa khiến anh không thể về gặp vợ, nhưng cuối cùng đã chọn ở lại để chiến đấu chống lại dịch hạch. Hay là Castel, vị bác sĩ già đã dốc hết sức để chế tạo huyết thanh, là Grand, người lo công việc hậu cần,.. và hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn người đã dũng cảm đứng lên chống lại cái chết Đen, dù biết Tử thần có thể hỏi thăm bất cứ lúc nào. Vì sao ư ? Vì đó là “việc phải làm”- như Jean Tarrou đã nói. Chẳng phải mỗi khi có thiên tai, có dịch bệnh, con người đều kiên cường chống trả hay sao? Bằng lòng nhân ái và sự nỗ lực không mệt mỏi đi tìm kiếm giải pháp, con người đã cứu vớt lẫn nhau. Như Nietzsche đã từng nói: “người nào có lí do để sống thì có thể tồn tại trong mọi nghịch cảnh”

“Trong đời, điều ác hầu như luôn luôn do sự dốt nát mà ra, vậy nên thiện chí có thể gây ra nhiều điều tổn hại không kém thói hung bạo, nếu thiện chí không được soi sáng. Người đời vốn tốt nhiều hơn xấu, và đây không phải là vấn đề đặt ra, quả thật vậy. Nhưng người đời thiếu hiểu biết, không nhiều thì ít, và đó là điều thiên hạ gọi là tánh lành hoặc tật xấu, tật xấu làm nản lòng nhất là tật dốt nát, tưởng mình biết tất cả vậy nên tự cho phép mình sát nhân. Tâm hồn kẻ sát nhân thì mù quáng, vậy không có lòng nhân từ thật sự hay lòng bác ái cao đẹp nào mà không có tất cả sự sáng suốt có thể có được”

Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh dịch hạch xuất hiện ở Oran là hàng loạt những con chuột chết. Chưa bao giờ người ta thấy nhiều chuột chết như vậy xuất hiện ở thành phố, mỗi ngày một nhiều thêm và không có xu hướng giảm bớt. Tuy thế, ban đầu người ta vẫn nghĩ rằng là do thời tiết hay gì đó đại loại, không ai nghĩ rằng việc nhiều chuột chết như vậy xuất hiện trong thành phố là một điềm báo không may cho một tương lai khiếp khủng sắp gõ cửa thành phố này. Hoặc là họ có nghĩ, nhưng cố lờ nó đi, nhủ thầm rằng mọi chuyện vẫn ổn.

Tóm lại, chuột chết thì mặc chuột chết, nhịp sống của Oran bị xáo động đôi chút, nhưng không nhiều. Sự an tâm có phần giả dối của người dân khiến mình hơi ớn lạnh khi đọc – bởi mình đã biết chắc nó sẽ chẳng thể kéo dài được lâu, và rằng họ đang bỏ qua một điềm báo của dịch bệnh sắp tới. Khi người ta thống kê thấy số lượng lũ chuột đã giảm, thì những mầm bệnh ấy lại di chuyển sang con người. Dịch hạch bùng phát, Oran đóng cửa thành phố và bắt đầu cuộc tranh đấu của mình.

Ban đầu khi có mấy ca mắc bệnh và vài người chết, người ta vẫn quả quyết có thể khống chế được trận dịch này, các phương pháp phòng tránh chỉ cốt để yên tâm. Thế nhưng về sau, ngay cả khi các phương pháp chống dịch được tăng cường chăng nữa, căn bệnh cũng không có dấu hiệu lùi bước. Nó len lỏi khắp ngõ ngách Oran, dấy lên trong lòng mỗi người sự sợ hãi và tuyệt vọng mơ hồ, nó kéo dài thời gian ra thể như vô tận, khiến người ta dường như mất nhận thức về tháng ngày bởi trong thời kì bệnh dịch này, chuỗi hành động lặp đi lặp lại tưởng như không hồi kết và ai nấy đều kiệt sức, đặc biệt là các y bác sĩ và những người tình nguyện.

Căn bệnh này lưu đày mọi người. Nó lưu đày người ta ngay cả trong hiện tại và chìm nổi trong những ký ức. Nó tạo ra khoảng cách và đày đoạ cái khát cảm kết nối giữa người với người. Nó nhân danh cái chết, nhưng là một thứ gì đó còn hơn cả cái chết. Nó là thử thách. Và ở “Dịch Hạch”, ta có những người không khuất phục trước thử thách hay gian truân.

Albert Camus không phán xét các nhân vật trong cuốn sách này, dù nhân vật ấy là người tin Chúa, không tin Chúa hay thậm chí là kẻ phạm tội. Tất cả đều phải đối mặt với sự phi lý và cùng học cách đoàn kết, thay đổi bản thân để đương đầu với sự phi lý ấy. Nhân vật khiến mình ấn tượng nhất khi đọc cuốn sách này là Jean Tarrou, một người không thuộc về Oran nhưng đã vì Oran như bất cứ ai đã lớn lên cùng và yêu thành phố này. Trong buổi tâm sự với bác sĩ Rieux nhằm buộc bản thân tạm quên đi dịch bệnh đang hoành hành, Tarrou đã nói đại ý rằng, chàng đã chạm trán căn bệnh dịch hạch trước đây rất lâu, đây không phải lần đầu tiên chàng gặp nó. Chúng ta đều mắc bệnh dịch hạch, và kẻ không mắc bệnh lắm khi đớn đau hơn cả người mắc bệnh, chúng ta đều bị lưu đày, theo cách này, hay cách khác. Mình nghĩ điều mà Tarrou muốn nói, hay Albert Camus muốn nói chính là, khó khăn luôn luôn tồn tại và người ta không còn cách nào khác ngoài dấn thân nếu muốn tiếp tục sống, và sống một cuộc đời không thẹn với lòng. “Dịch Hạch” chỉ là một phép ẩn dụ cho khó khăn và gian truân mà thôi, mà khó khăn và gian truân lại có ở tất cả mọi thời.

Gấp lại “Dịch Hạch”, mình hiểu rằng căn bệnh đã bị đẩy lui, song nó sẽ không biến mất. Như bác sĩ Rieux đã khẳng định, “…thiên ký sự không thể là của cuộc thắng trận vĩnh viễn.” Căn bệnh, nó vẫn lẩn khuất đâu đó, chờ dịp sống dậy, và khi ấy, người ta sẽ lại phải tiếp tục dấn thân và đương đầu với nó, kẻ bại trận sẽ là kẻ bị buộc phải biến mất.

Một vài ghi chú khác sau khi đọc xong “Dịch Hạch”:

Không khí của “Dịch Hạch” khiến mình liên tưởng ít nhiều với đại dịch Covid-19 xảy ra từ đầu năm nay cho tới hiện tại, có khá nhiều điểm tương đồng, chủ yếu là những suy nghĩ và cách người ta hành xử trước – trong – sau trận dịch. Nếu như đọc thì bạn sẽ hiểu vì sao mình cảm thấy như vậy.

Theo những gì viết ở cuối sách, mình có tìm hiểu thì biết rằng bản dịch này ra đời năm 1968, từng được NXB Dịch Giả phát hành năm 1971. Vậy cũng dễ hiểu khi bản dịch có dùng những từ khá cũ và theo mình là mang đôi nét phương ngữ, ban đầu mình mất khá nhiều thời gian để quen được với cách dịch như vậy, nhưng sau cùng cũng không phải vấn đề gì lớn.

Cuộc đấu tranh của tôi với Dịch Hạch một phần bắt nguồn từ triết lý hiện sinh của tác giả và dường như lấn át sự trong sáng của từng nhân vật. Nhưng ngoài ra, cuốn sách lấy bối cảnh ở Algeria, một quốc gia Hồi giáo rõ ràng và hầu như không có vẻ gì về dân số Ả Rập của quốc gia Bắc Phi này, không đề cập đến người Ả Rập, người Berber, nhà thờ Hồi giáo, khu chợ, âm nhạc Algeria/Andalucia, couscous, tajine hoặc các món ăn Mahgreb khác.

 Khi Camus sống ở Algérie đây vẫn còn là thuộc địa của Pháp, ông thường nghĩ mình là người Algérie cũng như người Pháp nhưng cuốn tiểu thuyết dường như không có vẻ gì liên quan về Bắc Phi. Đây có thể là một lời phàn nàn nhỏ nhưng nó dường như kéo dài đối với tôi. Có phải Camus bằng cách nào đó chỉ sống tị nạn tại Algérie?

Trong một bài viết của Camus, tác giả tuyên bố rằng trong cuộc sống này, chúng ta không thể ngăn trẻ em bị đánh đập nhưng chúng ta có thể cố gắng giảm số lượng trẻ em bị đánh đập. Camus là một người theo chủ nghĩa hòa bình và một trong những bài tiểu luận dài hơn của ông đã chống lại máy chém, thứ vẫn được sử dụng ở Pháp trong suốt thời kỳ của tác giả, cùng với việc đề cập đến phản đối hình phạt tử hình được đưa vào trong Dịch Hạch. Cuối cùng, bác sĩ Rieux tuyên bố:

 Tôi đã quyết tâm không liên quan đến bất cứ thứ gì, dù trực tiếp hay gián tiếp, với lý do tốt hay xấu, gây ra cái chết cho bất kỳ ai hoặc biện minh cho việc người khác giết chết bất kỳ ai. Tôi đã nhận ra rằng tất cả chúng ta đều mắc bệnh dịch và tôi đã mất bình yên. Tôi vẫn đang cố tìm nó, vẫn đang cố hiểu tất cả những người khác và không trở thành kẻ thù truyền kiếp của bất kỳ ai.

Trong khi các điều kiện của bệnh dịch hạch liên quan đến việc kiểm dịch kéo dài tại các cảng ở Bắc Phi, nếu như đây là một phép ẩn dụ hoặc phúng dụ mở rộng, thì chủ đề chủ đạo trong tiểu thuyết Camus dường như là cuộc lưu đày theo nghĩa triết học hơn - lưu vong khỏi quê nhà nước Pháp, từ cuộc sống ở Pháp như được biết đến trước khi Đức chiếm đóng trong Thế chiến thứ hai và cũng là một kiểu lưu đày khỏi những giáo điều của Công giáo La Mã hoặc bất kỳ hình thức tín ngưỡng tôn giáo truyền thống nào. Đây là một phần của cuộc đối thoại hấp dẫn hơn ở cuối tiểu thuyết:

 Chuyện này, Tarrou nói gần như tùy tiện, đang học cách trở thành một vị thánh.

 Bác sĩ Rieux đáp, nhưng ông không tin có Chúa.

 Tarrou: Chính xác! Làm sao một người có thể trở thành thánh nếu không có Chúa? - đó là vấn đề mà tôi phải đối mặt hôm nay.

 Rieux: Tôi cảm thấy thông cảm với những kẻ chiến bại hơn là với những vị thánh. Chủ nghĩa anh hùng và sự tôn nghiêm không thực sự hấp dẫn tôi, tôi nghĩ vậy. Điều khiến tôi quan tâm là trở thành một người đàn ông.

 Tarrou: Vâng, cả hai chúng ta đều theo đuổi cùng một thứ nhưng tôi ít tham vọng hơn.

 Bác sĩ Rieux cho rằng Tarrou đang nói đùa và quay sang anh mỉm cười. Nhưng, ánh sáng yếu ớt lờ mờ từ trên trời chiếu xuống, khuôn mặt anh thật buồn và nghiêm túc.

 Tarrou nói với bác sĩ Rieux: Anh có biết bây giờ chúng ta nên làm gì vì tình bạn không?

 Bất cứ điều gì anh thích, Tarrou trả lời: Đi bơi đi. Đó là một trong những thú vui vô hại mà ngay cả một vị thánh tương lai cũng có thể đam mê, bạn có đồng ý không?

 Tại thời điểm này, trong một câu chuyện ngập tràn về sự chết chóc, tôi gần như mường tượng ra cảnh Rieux nói với Tarrou: “Tôi nghĩ đây là khởi đầu của một tình bạn đẹp” giống như bộ phim Casablanca.

Bằng cách đưa bệnh dịch hạch (ban đầu là dịch hạch sau đó chuyển thành viêm phổi) vào thị trấn thuộc địa buồn tẻ Oran, mọi người buộc phải đối mặt với cái chết. Con người nói chung không muốn làm điều này bởi vì khuôn mặt nhếch nhác và xương xẩu của thần chết là thứ mà chúng ta muốn tránh nhất (xin lỗi Thần chết, nếu bạn đang đọc cái này). Chứng kiến một xã hội bị buộc phải giải quyết tỷ lệ tử vong của chính mình là một thử nghiệm xã hội thú vị vì nó khuyến khích một số đặc điểm xác định xuất hiện. Một số người ngay lập tức rào mình trong nhà vì lo sợ điều tồi tệ nhất. Những người khác cố gắng chạy trốn càng sớm càng tốt và làm như không ai biết về việc họ rời đi(hoặc thực tế là chính họ có thể là người mang mầm bệnh). Một nhóm khác nhượng bộ việc bỏ rơi người đồng tính và tận hưởng một môi trường tự do không có công việc, chấp nhận thực tế rằng cuộc sống rất ngắn ngủi nên nó cũng có thể kết thúc bằng một bữa tiệc. Một số tiếp tục làm việc, hy vọng họ có thể dựa vào thói quen để lừa họ tin rằng mọi chuyện sẽ ổn.

 Nhiều người chết, một số sống sót và vào thời điểm gần như toàn bộ bệnh dịch đã giảm bớt, những người sống sót đã quên rằng họ đã từng cận kề cái chết. Thực tế là con người có thể ngu ngốc và có trí nhớ ngắn là một ý tưởng mới và khai sáng? Không hề.

 Điểm mấu chốt là cho dù bạn thuộc nhóm triết học nào (bạn có thể chọn giữa chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa duy tâm, đây mới chỉ là một số ít trong các nhóm) bạn không thể thoát khỏi sự thật rằng cái chết luôn có tiếng nói cuối cùng. Nếu có ai biết ý nghĩa của những lời ấy thì vui lòng cho tôi biết với.